Trang chủ » Dược phẩm thông dụng khác » INDGER 4MG- MEDISUN- HỘP 30 VIÊN

MENU SẢN PHẨM

NHÂN VIÊN HỖ TRỢ

Hiểu Diên

0911 444 368

Thùy Dương

0909 655 717

INDGER 4MG- MEDISUN- HỘP 30 VIÊN

INDGER 4mg_H30v_

Giá sản phẩm:
Đăng nhập xem giá

GIỚI THIỆU SẢN PHẨM

1. Tên hoạt chất và biệt dược: Hoạt chất : Glimepiride Phân loại: Thuốc điều trị tiểu đường. Nhóm Sulfonylureas. Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine) Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A10BB12. Biệt dược gốc : Amaryl Biệt dược: Indger Hãng sản xuất : Công ty cổ phần dược phẩm Me Di Sun 4.1. Chỉ định: Điều trị đái tháo đường type II khi không kiểm soát được bệnh bằng chế độ ăn kiêng, tập thể dục và giảm cân nặng. 4.2. Liều dùng – Cách dùng: Cách dùng : Thuốc dùng theo đường uống. Không được nhai mà nên nuốt với một ít chất lỏng. Cơ sở đề điều trị thành công bệnh đái tháo đường là có chế độ ăn tốt, thường xuyên vận động thể chất, kiểm tra máu và nước tiểu định kỳ. Sử dụng thuốc hoặc insulin không thể kiểm soát được bệnh nếu bệnh nhân không giữ chế độ ăn uống theo khuyến cáo Liều dùng: Bệnh nhân nên sử dụng dạng bào chế thích hợp với liều chỉ định. Liều dùng được xác định bởi kết quả xét nghiệm máu và nước tiểu. Liều khởi đầu là 1 mg glimepirid/ngày, nếu cho kết quả điều trị tốt thì nên tiếp tục duy trì liều này. Với các phác đồ điều trị khác nhau thì cần dùng liều phù hợp. Nếu bệnh không được kiểm soát tốt, liều dùng nên được tăng lên dựa vào mức độ đường huyết, nên tăng liều theo từng bước, mỗi bước nên cách nhau 1 đến 2 tuần, uống 2, 3 hoặc 4 mg glimepirid/ngày. Liều lớn hơn 4 mg glimepirid/ngày cho kết quả điều trị tốt hơn trong trường hợp đặc biệt Liều khuyến cáo tối đa là 6 mg glimepirid/ngày. Bệnh nhân dùng metformin với liều hàng ngày tối đa mà không kiểm soát được bệnh thì có thể dùng kết hợp với glimepirid. Trong khi duy trì liều metformin, glimepirid được bắt đầu với liều thấp, và sau đó được nâng dần lên phụ thuộc vào nồng độ đường được kiểm soát và có thể tăng lên đến liều tối đa hàng ngày. Khi điều trị phối hợp bệnh nhân nên được giám sát chặt chẽ. Khi dùng với liều tối đa hàng ngày mà không kiểm soát được bệnh thì có thể phối hợp với insulin khi cần thiết. Trong khi duy trì liều glimepirid, liều insulin nên bất đầu ở liều thấp và nâng dần lên phụ thuộc vào nồng độ đường được kiểm soát. Khi điều trị phối hợp bệnh nhân nên được giám sát chặt chẽ. Thông thường uống một liều duy nhất glimepirid là đủ. Khuyến cáo nên uống trước hoặc trong bữa ăn sáng hoặc nếu không thì nên uống trước hoặc trong bữa ăn chính đầu tiên trong ngày. Nếu quên uống 1 ngày thì bỏ qua ngày đó, ngày hôm sau vẫn duy trì liều bình thường. Nếu bệnh nhân có hiệu quả hạ đường huyết khi uống 1 mg glimepirid/ngày thì đường huyết của bệnh nhân có thể được kiểm soát bằng duy trì chế độ ăn uống phù hợp. Trong quá trình điều trị, nếu việc kiểm soát bệnh đái tháo đường có liên quan nhiều đến độ nhạy với insulin thì liều glimepirid có thể giảm. Đe tránh hạ đường huyết việc giảm liều hoặc cát liều nên được xem xét. Thay đổi liều là cần thiết nếu bệnh nhân thay đổi cân nặng hoặc lối sống hoặc các yếu tố khác làm tăng nguy cơ hạ đường huyết hoặc tăng đường huyết. Chuyển từ thuốc hạ đường huyết đường uống khác sang dùng glimepirid Việc chuyển từ các thuốc hạ đường huyết khác sang dùng glimepirid có thể được thực hiện, hiệu quả và thời gian bán thải của thuốc dùng trước đó nên được xem xét. Trong một số trường hợp, đặc biệt khi thuốc điều trị đái tháo đường có thời gian bán thải dài (ví dụ chlorpropamid), giai đoạn đào thải kéo dài vài ngày thì nên giảm liều từ từ để giảm tjjieu nguy cơ hạ đường huyết do tác dụng phụ. Liều khởi đầu theo khuyến cáo là 1 mg glimepirid/ngày. Dựa vào hiệu quả thu được có thể tăng liều glimepirid từng bước như trên. Chuyển từ insulin sang glimepirid Trong những trường hợp đặc biệt, khi bệnh nhân đái tháo đường type II đang điều chỉnh đường huyết bằng insulin, có thể chỉ định chuyển sang dùng glimepirid dưới sự giám sát của nhân viên y tế. Đối tượng đặc biệt Bệnh nhân suy gan và suy thận Glimepirid chống chỉ định ở bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan và thận nặng. Trong trường hợp bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan và thận nặng, nên chuyển sang dùng insulin. Đối tượng trẻ em: không có dữ liệu về việc có thể sử dụng glimepirid ở bệnh nhân dưới 8 tuổi. Trẻ em từ 8 đến 17 tuổi, có ít dữ liệu về việc dùng glimepirid đơn trị liệu tuy nhiên dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả khi dùng cho trẻ em là không đầy đủ do đó việc dùng glimepirid cho trẻ em không được khuyến khích. 4.3. Chống chỉ định: Glimepirid được chống chỉ định ở những bệnh nhân sau: Mẫn cảm với glimepirid, các sulfonylurea hoặc Sulfonamid khác hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc. Bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin. Hôn mê đái tháo đường. Nhiễm toan ceton. Rối loạn chức năng gan hoặc thận nặng. Trong trường hợp rối loạn chức năng gan hoặc thận nặng, cần chuyển sang dùng insulin 4.4 Thận trọng: Glimepirid cần uống ngay trước hoặc trong bữa ăn. Khi hàng ngày bệnh nhân ăn không đúng giờ hoặc bỏ bữa, việc điều trị bằng viên nén glimepirid có thể dẫn đến hạ đường huyết. Các triệu chứng có thể có khi hạ đường huyết bao gồm: đau đầu, đói cồn cào, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, buồn ngủ, rối loạn giấc ngủ, bồn chồn, kích động, giảm tập chung, trầm cảm, lú lẫn, rối loạn ngôn ngữ và thị giác, mất ngôn ngữ, run, liệt, rối loạn cảm giác, chóng mặt, bất lực, mất tự chủ, mê sảng, co giật não, buồn ngủ và mất ý thức đến hôn mê, hô hấp nông và nhịp tim chậm. Ngoài ra có thể có dấu hiệu đối kháng adrenergic như: đổ mồ hôi, nổi da gà, lo lắng, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, đánh trống ngực, đau thắt tim và rối loạn nhịp tim. Hình ảnh lâm sàng khi bị cơn hạ đường huyết nghiêm trọng có thể giống một cơn đột quỵ. Các triệu chứng hầu như có thể kiểm soát bằng cách cho hấp thụ carbohydrat ngay lập tức, dùng chất làm ngọt nhân tạo không có tác dụng. Như các sulfonylurea khác, khi điều trị với glimepirid thì ban đầu có thể thành công tuy nhiên hạ đường huyết có thể tái phát. Khi hạ đường huyết nặng hoặc hạ đường huyết kéo dài thì sử dụng đường thì chỉ kiểm soát tạm thời, sau đó bệnh nhân cần được điều trị y tế ngay và thường xuyên đến viện để kiểm tra. Các yếu tố làm tăng nguy cơ hạ đường huyết gồm: Bệnh nhân không hợp tác hoặc bệnh nhân mất khả năng hợp tác (chủ yếu là người già). Bệnh nhân suy dinh dưỡng, ăn uống không điều độ, bỏ ăn hoặc ăn chay. Thay đổi chế chộ ăn uống. Mất cân bàng giữa chế độ vận động và lượng carbohydrat đưa vào cơ thể. Uống rượu, đặc biệt kết hợp với bỏ bữa. Suy giảm chức năng thận. Rối loạn chức năng gan nặng.

SẢN PHẨM CÙNG LOẠI